Bản để in
Gửi đến bạn bèKhông chỉ ở các nước đang phát triển như Việt Nam, mà ngay tại những nước phát triển trên thế giới cũng đang đối mặt với những thách thức và khó khăn trong quá trình thúc đẩy mảng việc làm cho người khiếm thị (NKT). Hiện nay, NKT Việt Nam vẫn còn bị hạn chế ở những ngành nghề chân tay, không yêu cầu nhiều kiến thức cũng như kỹ năng chuyên môn cao như bó chổi, làm giỏ, xoa bóp bấm huyệt... Trong khi, với sự phát triển của các công nghệ trợ giúp đã và đang đem lại nhiều cơ hội việc làm cho NKT với đa dạng các ngành nghề.
Chúng ta có thể nêu lên hai vấn đề chính để giúp NKT có một cuộc sống hòa nhập với xã hội và đóng góp cho xã hội đó chính là giáo dục và việc làm. Tôi không đề cập tới những vấn đề khác như y tế, giao thông vv... trong hội thảo này vì nó không trực tiếp tác động nhiều vào mảng việc làm cho nkt.
Mục tiêu của các chương trình đào tạo/giáo dục là nhằm trang bị các kiến thức, kỹ năng chung cũng như chuyên môn cho mọi người mà hiện nay nkt Việt Nam còn gặp rất nhiều trở ngại trong quá trình tiếp cận với các chương trình đào tạo/giáo dục này. Một khi họ không được trang bị các kiến thức, kỹ năng cơ bản và chuyên môn thì cơ hội tìm việc làm của họ tất nhiên là bị hạn chế rất nhiều.
Về mảng việc làm thì nkt còn thiếu một môi trường làm việc thân thiện/tiếp cận bao gồm các vấn đề như thiết bị trợ giúp, giao tiếp, thông tin việc làm, các hỗ trợ thêm từ doanh nghiệp.
Phía các nhà tuyển dụng thì vẫn còn những e ngại khi nhận nkt vào làm việc. Những lý do cho sự e ngại của các doanh nghiệp bao gồm như tính hiệu quả công việc, thiếu thông tin về nkt, chưa nắm bắt được những hỗ trợ từ phía nhà nước khi nhận nkt vào làm việc.
Một yếu tố khác tôi cho rằng rất quan trọng trong việc thúc đẩy việc làm cho nkt là vai trò của các cơ quan nhà nước cũng như các tổ chức xã hội liên quan. Hiện chúng ta còn thiếu những đơn vị/tổ chức thực hiện đúng vai trò hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật. Vai trò chính của những đơn vị này là chiếc cầu nối giữa nkt tìm việc và doanh nghiệp. Họ thực hiện các chương trình khảo sát, hỗ trợ nkt các điều kiện đủ để làm việc, tư vấn cho các doanh nghiệp...
Điều này thì hiện theo tôi biết Việt Nam cũng đã có nhiều đơn vị giới thiệu việc làm và có mục tiêu phát triển để thực hiện vai trò cầu nối hoặc có thể gọi là trung tâm hỗ trợ việc làm cho nkt nhưng vẫn còn rất nhiều hạn chế.
Một số điểm xin đề nghị xem xét trong bộ luật lao động, phần cho NKT như sau:
1. Xem xét thêm các hỗ trợ khác cho các doanh nghiệp có nhận người khuyết tật vào làm việc như:
- Xem xét hỗ trợ/cho mượn trang thiết bị giúp NKT làm việc tại doanh nghiệp
- Hỗ trợ các chương trình đào tạo kỹ năng liên quan cho các nhân viên NKT của doanh nghiệp
- Xem xét các đề xuất của doanh nghiệp trong việc cải thiện môi trường làm việc cho NKT như sửa chữa cơ sở hạ tầng nhằm tiếp cận hơn để hỗ trợ doanh nghiệp vay vốn cho các đề xuất đó với mức lãi xuất thấp hoặc không lãi xuất (có thể dựa trên tỉ lệ số lao động NKT của doanh nghiệp hưởng lợi trực tiếp tại địa điểm mà doanh nghiệp đã đề xuất.)
- Xem xét thi đua khen thưởng thông qua các chương trình thực tiễn nhằm quảng cáo các doanh nghiệp do các bộ ban ngành khởi xướng và phải đảm bảo tính cạnh tranh công bằng giữa các doanh nghiệp có nhận và không nhận NKT.
2. Sử dụng người lao động KT:
- Cần chỉ rõ mức độ thương tật và ngành nghề để không cho phép các doanh nghiệp không sử dụng người lao động KT. Lưu ý, cần điều tra nghiêm túc với bảng danh sách này vì nó có thể tạo ra nhiều bất cập cho các doanh nghiệp khi nhận NKT.
- Tôi cũng xin đề nghị xem xét lại vấn đề đánh giá mức độ thương tật và đưa ra các quy định không cho phép doanh nghiệp yêu cầu NKT làm việc tăng ca, làm ban đêm... đối với trên 51%. Cần xem xét lại và phân loại chỉ định dạng tật cụ thể (nếu cần).
3. Ưu đãi cho các doanh nghiệp dành cho nkt:
- Tôi đề nghị cần có những cuộc khảo sát cụ thể để xác định tỉ lệ phần trăm số lao động là NKT để khẳng định là doanh nghiệp dành cho NKT. Con số 51% ở đây chỉ thể hiện số lượng người lao động, tôi vẫn chưa nhận thấy con số này thể hiện tính linh động về dạng tật cũng như quy mô và ngành nghề.
Đặng Hoài Phúc/Giám Đốc
Trung Tâm Tin Học Vì Người Mù Sao Mai
Download các bài tham luận khác:
Nội dung cơ bản dự thảo luật người khuyết tật
Dự thảo BLLĐ 2 phần liên quan đến NKT
Báo cáo thực hiện chế độ chính sách đối với người tàn tật
Mô hình cung cấp dịch vụ phục hồi chức năng lao động cho NKT – VNAH